Làng Đa Sỹ nép mình bên dòng Nhuệ Giang thơ mộng và hiền hòa, được du khách biết đến là làng có nhiều danh y, danh tướng, tiến sĩ và trạng nguyên được lưu giữ, thờ cúng tại đình làng. Không chỉ là vùng đất nổi tiếng về hiếu học, Đa Sỹ còn tự hào là một làng nghề truyền thống có từ bao đời nay với nghề rèn dao, kéo. Cũng chính vì thế mà tiếng đe, tiếng búa đã gắn liền với cuộc đời ông Nguyễn Văn Sử. Ông chia sẻ, mười hai tuổi, ông đã biết phụ gia đình tham gia vào các công đoạn rèn dao, kéo sau những giờ học. Ông nội và cha ông là những người thợ lành nghề, lâu năm trong làng nên cứ thế cái nghề “lớn dần” trong ông từ khi nào không hay biết. Cái nghề ăn sâu vào tiềm thức, trở thành thói quen. Cũng chính nhờ nghề này mà cha ông đã trang trải được mọi chi phí trong gia đình, lo được cái ăn, cái học cho cả gia đình.

Được biết, hơn mười năm trước, sản phẩm của làng Đa Sỹ đều được làm bằng thủ công, đầu tiên là cắt phôi, sau đó cho vào lò than nung đến nhiệt độ gần 1.000 độ. Khi phôi thép được nung đến độ nhất định thì người thợ đưa ra quai búa. Quai búa phải nhịp nhàng, nhanh và chính xác để không gây ra “tai nạn” cho người cùng làm. Những phôi thép thô đã qua giai đoạn nung, rèn thì đến giai đoạn “dẻo” để tạo thành hình dáng hoàn chỉnh của sản phẩm. Sau đó tiếp tục cho vào lò nung cho đỏ trắng rồi tôi qua nước muối, dầu hỏa (để tạo màu) và chuyển sang công đoạn gọt cánh. Cuối cùng là mài nước, gạt màu, đánh phớt bóng, tra cán là hoàn thành một sản phẩm.

leftcenterrightdel
Ông Nguyễn Văn Sử chia sẻ kỷ niệm về đời lính, kinh nghiệm làm nghề.

Có đứng trong một diện tích chật hẹp, cộng với nhiệt độ của của lò than, phôi thép tỏa ra mới thấy hết được sự vất vả, cực nhọc của những người thợ làm rèn. Vậy nên, người làm nghề phải chịu thương chịu khó; yêu thích công việc mình đang làm. Đức tính chịu thương, chịu khó đó đã tạo nên nét đẹp văn hóa đặc trưng của người thợ làng Đa Sỹ. Ông Nguyễn Văn Sử tâm sự: “Với tôi, 15 năm tham gia chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc không những là nghĩa vụ, trách nhiệm mà còn tôi luyện cho tôi tính nhẫn nại, khắc phục khó khăn, vượt qua gian khó luôn nhìn về phía trước. Mong ước của tôi bây giờ là làm sao để làm ra những con dao “đa năng” có đủ độ cứng, độ sắc bén, để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hằng ngày và trở thành sự lựa chọn hàng đầu của mỗi người dân; là vật dụng quen thuộc, gần gũi, cần thiết của người già khi bổ quả cau, ăn miếng trầu, là con dao phay của những bà nội trợ cho những bữa ăn hàng ngày, là con rựa của người nông dân khi vào rừng, ra ruộng…”.

Theo ông Hoàng Quốc Chính, Trưởng ban di tích, Chủ tịch Hội làng nghề Đa Sỹ, ông Nguyễn Văn Sử là một trong số ít hộ gia đình duy trì nghề rèn thủ công, không có sự hỗ trợ của máy móc, thiết bị. Do đó, đây là địa điểm mà Hội làng nghề Đa Sỹ thường giới thiệu để những du khách muốn thực hành trải nghiệm, trực tiếp làm ra sản phẩm bằng chính sức lao động của mình.

Với “chất lính” và lòng say nghề, ông Nguyễn Văn Sử đã và đang truyền “lửa” cho lớp thế hệ sau lan tỏa đức tính cần cù, chịu khó của người thợ làng Đa Sỹ và phát huy văn hóa làng nghề, đưa thương hiệu sản phẩm dao, kéo Đa Sỹ có chỗ đứng trên thị trường trong nước, và khu vực.

Bài và ảnh: LÊ TÂY