Tương truyền, Lý Thân vào tuổi “bẻ gãy sừng trâu” đã có tầm vóc cao lớn lạ thường, văn võ song toàn, tính tình hiếu nghĩa, cương trực. Thời bấy giờ có giặc phương Bắc thường hay quấy nhiễu biên thùy, vua xuống chiếu cầu người tài đức dẹp giặc cứu nước. Phủ Quốc Oai bèn tiến cử Lý Thân. Ông lĩnh ý, cầm quân dẹp tan giặc, lập nhiều công lớn. Cuối đời vua Duệ Vương, đất nước Văn Lang bị quân Tần xâm lược, ông hợp với Thục Phán cùng quân dân Lạc Việt đánh cho giặc phải bỏ chạy tán loạn. Thục Phán lên làm vua lấy hiệu là An Dương Vương. Lúc bấy giờ, khi nhà Tần bị giặc Hung Nô quấy phá bèn sai sứ sang cầu An Dương Vương cử tướng tài sang giúp. Triều đình nhà Thục tiến cử Lý Thân. Sau khi thử tài Lý Thân, Tần Thủy Hoàng thấy văn đạt “Hiếu liêm” (tiến sĩ), võ đạt “Hiệu úy” (Tổng chỉ huy) bèn phong ông làm tư lệnh Hiệu úy và cho xuất 10 vạn quân trấn ải Hàm Dương. Thắng trận trở về, vua Tần phong ông chức Phụ Tín Hầu và gả công chúa cho. Vua Tần cũng ngỏ ý muốn giữ ông ở lại nước Tần nhưng ông đã từ bỏ vinh hoa phú quý, đem theo vợ con trở về quê hương. Về nước, ông được vua Thục An Dương Vương phong tước Đại Vương.

leftcenterrightdel
Một góc đình Chèm.

Để tưởng nhớ công đức của Lý Thân, dân làng đã tôn xưng ông là Đức Thánh Chèm và lập đình (đền) Chèm thờ ông.

Đình Chèm mang dáng dấp cung đình, gồm các hạng mục: Nghi môn ngoại (bốn cột đồng trụ), nghi môn nội (tàu tượng), hai tòa tiểu phương đình (nhà bia), hai dãy nhà tả hữu mạc, tòa phương đình. Khu vực trung tâm của đình gồm: Tòa tiền tế, đại bái và hậu cung kết hợp kiến trúc chữ Nhị và chữ Công nối liền, tạo ra không gian kiến trúc độc đáo không đâu sánh bằng.

Đình được xây dựng ngay sau khi ngài qua đời. Năm 785 sau Công nguyên, đô hộ sứ nhà Đường là Triệu Xương rất kính phục ngài, đã cho sửa lại đình to đẹp hơn. Năm 864, Cao Biền sang làm đô hộ sứ đã sửa lại đình lớn hơn quy mô cũ, tạc gỗ làm tượng, sơn son thếp vàng. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, đình Chèm luôn được quan tâm trùng tu, sửa chữa để tránh ngập lụt, do đình nằm sát ngay cửa sông Nhuệ.

Đến nay, đình Chèm còn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị nghệ thuật cao như: Các hoành phi, câu đối, bia đá, sắc phong, tượng thờ… đặc biệt là tượng Đức Thánh Hy Khang Thiên Vương và Hoàng Phi Bạch Tịnh Cung (vợ ngài, con gái vua Tần) được tạc bằng gỗ quý năm 1888-đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc Việt Nam. Trước tài, đức và tấm lòng trung quân ái quốc của ngài, hằng năm, hàng chục nghìn lượt du khách đã đến lễ bái, tham quan và tìm hiểu kiến trúc của đình Chèm. Theo ông Lê Văn Hiệu, thủ từ lâu năm ở đây cho biết: “Đình Chèm là nơi linh thiêng nên khách từ phương Nam hay du khách nước ngoài thường hay tìm đến thắp hương, thưởng ngoạn”.

Vào ngày 14 đến 16-5 (âm lịch), nhân dân làng Chèm, làng Hoàng Xá, làng Hoàng Liên cùng nhau tổ chức lễ hội truyền thống đình Chèm (còn gọi là Pháp hội) với các hoạt động tiêu biểu: Nghi lễ lấy nước thiêng trên sông Hồng, rước văn, lễ mộc dung (tắm tượng), lễ phóng sinh (thả chim bồ câu) cùng các hội thi như: Bơi, đấu cờ người, chọi gà, đặc biệt là hội thi nấu chè kho, sản phẩm đặc trưng của lễ hội.

Bài và ảnh: PHƯƠNG THẢO