Hai câu đối trước cổng Nguyễn Quận Từ (từ đường dòng họ Nguyễn) đã giữ bước chân chúng tôi khi đến thăm làng nghề Nhị Khê, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín (Hà Nội).

leftcenterrightdel
Tượng danh nhân Nguyễn Trãi được dựng cạnh Nguyễn Quận Đường.

Nguyễn Quận Từ có kiến trúc kiểu chữ Đinh, theo kiến trúc cổ xưa của đình làng Bắc Bộ. Bên trong là tượng Danh nhân văn hóa thế giới-Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi ngồi uy nghi, hiền từ nhìn hậu thế. Điều bất ngờ hơn, tại Nguyễn Quận Từ, chúng tôi gặp cụ Nguyễn Thông, người trông coi và là cháu đời thứ 17 của cụ Nguyễn Trãi. Vậy là sau cái án “Lệ Chi Viên” làm đời “tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”, giọt máu đào của cụ Nguyễn Trãi vẫn được lưu lại trên mảnh đất Thường Tín. Cụ Nguyễn Thông kể lại rằng, xã Nhị Khê còn được gọi là “Ngọc Ổi Lâm” (vì đất này trước đây trồng ổi tiến vua), là dải đất hình con phượng hoàng, có nước sông Tô bắt nguồn từ Hồ Tây tưới mát quanh năm. Trên thế đất có 99 gò, mỗi gò mang hình dáng khác nhau, như: Hình con cua, con rùa, cái cuốc, cái bảng dạy học… Với thế địa linh, cụ Nguyễn Phi Khanh, thân sinh cụ Nguyễn Trãi đã đến đây định cư và mở trường dạy học. Tên xã Nhị Khê là do cụ Phi Khanh đặt. Tục truyền rằng, vào mùa sen, dòng sông Tô mang những cánh sen trôi dạt đến tận nơi này. Tức cảnh sinh tình, cụ Phi Khanh làm 2 câu thơ “Sông Tô đống bảng còn đây/Nhụy Khê hai tiếng tràn đầy sắc hoa”. Vì thế vùng đất được cụ đặt tên là Nhụy Khê, sau đọc trại là Nhị Khê.

leftcenterrightdel
Chính điện Nguyễn Quận Đường.

Trong án oan Lệ Chi Viên, người thiếp Phạm Thị Mẫn đang mang trong mình giọt máu của Nguyễn Trãi đã được Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực bí mật đưa về Thanh Chương, Nghệ An và đẻ ra con trai đặt tên là Anh Vũ. Đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông minh oan và cho con trai duy nhất còn sống sót là Nguyễn Anh Vũ làm tri huyện, cấp 100 mẫu ruộng gọi là ruộng miễn hoàn cho con cháu Nguyễn Trãi. Sau đó, dân làng Nhị Khê dựng đền thờ ông. Thế phả họ Nguyễn ghi: Nguyễn Quận Đường dựng ở xóm Trù Lý, đến thời Minh Mạng mới chuyển ra địa điểm hiện nay; năm 1927, đền được đại trùng tu; năm 1935 hoàn chỉnh. Cho đến nay, đền còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý: Đôi hạc bằng gỗ mang nét chạm thời Lê; hai đạo sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 28 (1768) và niên hiệu Tự Đức năm thứ 6 (1854). Gian giữa đền có hai tấm biển sơn son khắc chữ Hán, tương truyền là của vua Lê Thánh Tông ban cho Nguyễn Trãi khi được minh oan. Mặt trước của tấm biển thứ nhất đề “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”; mặt sau đề là “Lê triều khai quốc công thần”. Tấm biển thứ hai đề “Nhị Khê tướng công”.

Đến nay, mảnh đất địa linh Nhị Khê ngày càng sầm uất. Đất lành chim đậu, toàn xã có khoảng 26 họ tộc đến định cư với hơn 2.600 nhân khẩu. “Dân vi gác. Viên vi thần”, lời dạy của cụ Phi Khanh đã thấm vào từng người Nhị Khê, sống có trước có sau, có nghĩa có tình, làm nghề thuần thục, tinh xảo.

Bài và ảnh: VIỆT HÀ