Lê Đại Cang (1771-1847) sinh ra trong một gia đình Nho học nghèo, tại thôn Luật Chánh, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Cha mẹ mất sớm, Lê Đại Cang vẫn tự học ở quê nhà, chẳng bao lâu nổi tiếng văn võ toàn tài. Năm 1802, ngay khi nhà Nguyễn thành lập, ông được Hữu quân Bình Tây tướng quân Quận công Nguyễn Huỳnh Đức và Hình bộ Thượng thư Tham tri Nguyễn Hoài Quỳnh tiến cử với vua Gia Long, được bổ chức Tri huyện Tuy Viễn (Bình Định).

leftcenterrightdel
Nơi thờ tự danh nhân Lê Đại Cang tại quê nhà. Ảnh: HUỲNH CHƯƠNG HƯNG

Từ năm 1802-1931, nhà Nguyễn chia đất nước thành 27 doanh, trấn. Thiết lập 2 thành là Bắc thành và Gia Định thành, riêng Bắc thành gồm 11 trấn, trọn vẹn vùng đất từ Ninh Bình ngày nay trở ra. Năm 1832, vua Minh Mạng mới bãi bỏ các doanh, trấn, thành lập các tỉnh. Ở Bắc kỳ, thành lập 13 tỉnh, trong đó có tỉnh Hà Nội. Lê Đại Cang có 4 lần làm việc ở Bắc thành và Hà Nội với tổng cộng 20 năm. Ông đảm nhận nhiều công việc, chức vụ: Xét án, quản lý đê chính rồi kiêm Hình tào Bắc thành, Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên lĩnh Tuần phủ Sơn Tây, Tổng đốc Hà Nội - Ninh Bình...

Dù giữ chức vụ nào ông đều thể hiện là vị quan thanh liêm, dày dạn kinh nghiệm, hết mình vì công việc. Thấy án ở Bắc thành còn tồn đọng nhiều, tháng 7-1827, vua Minh Mạng cử ông làm khâm sai ra xử lý. Chỉ trong 4 tháng, ông đã xử lý xong các vụ đại án, đến mức sử cũ còn ghi “không còn án để đọng, ngục không có tù giam lâu”.

Liền năm sau, Lê Đại Cang được giao Quản lý Nha Đê chính Bắc thành, bắt tay vào đắp đê, nạo vét lòng sông. Vua Minh Mạng biết được những phẩm chất tốt đẹp của Lê Đại Cang và tin tưởng ông có thể hoàn thành công việc. Biết là việc khó, làm tốt được thưởng nhưng làm không tốt thì bị giáng chức nhưng Lê Đại Cang không chút lo sợ mà hết lòng với công việc. Sử cũ ghi, Lê Đại Cang sau khi đi kiểm tra nhận thấy toàn Bắc thành có tới 18 vị trí phải đắp mới, hoặc bồi đắp thêm. Chỉ trong một năm, dưới sự điều hành, chỉ huy của Lê Đại Cang, hàng vạn mét đê được đắp có giá trị lâu dài. Trong đó, đáng chú ý là các đoạn đê sông Hồng có chức năng bảo vệ các huyện ngoại thành Hà Nội ngày nay. Điểm đáng lưu ý hơn là Lê Đại Cang đã thống kê tình trạng đê điều biên soạn thành sách “Sách tổng kê các đê công, tư ở Bắc thành” dâng lên vua, trở thành nguồn sử liệu quan trọng cho đời sau.

Bản lĩnh của Lê Đại Cang là luôn vươn lên dẫu nhiều khi nhà vua có nghiêm khắc trách phạt vẫn không thôi tận trung làm việc, chỉ xin nghỉ hưu ở tuổi xưa nay hiếm. Bốn thập niên rong ruổi Bắc Nam, khổ cực trăm bề, vì việc chung mà quên hết việc riêng như lời ông tự nhận đã đủ chứng minh tài năng, đạo đức của một nhà Nho quân tử có chí lớn.

Từ năm 2013 đến nay, các cơ quan chức năng đã tổ chức ba hội thảo về danh nhân Lê Đại Cang. Mới nhất, tháng 12-2017, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc, Tạp chí Văn hiến tổ chức Hội thảo khoa học “Lê Đại Cang với Bắc thành và Hà Nội”. Nhiều nhà khoa học tại hội thảo đã đề xuất HĐND TP Hà Nội nên biểu quyết đặt tên đường Lê Đại Cang để tri ân những đóng góp, công lao của ông với Hà Nội.

HÀM ĐAN