QĐND - Trong văn học trung đại có đề tài quen thuộc vịnh cảnh, ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên. Thăng Long-Hà Nội là nơi đóng đô nhiều triều đại với nhiều thành quách đền đài, nơi hội tụ dân cư và tinh hoa muôn phương, cũng được nhiều văn sĩ miêu tả vẻ đẹp của chốn kinh thành hoa lệ. Một trong những tác phẩm bất hủ khi vịnh cảnh Thăng Long xưa là tác phẩm chữ Nôm “Tụng Tây Hồ phú” của Chương lĩnh hầu Nguyễn Huy Lượng (?-1808).
 |
| Hồ Tây hôm nay. |
Đến bây giờ, giới nghiên cứu vẫn chưa xác định được năm sinh của Nguyễn Huy Lượng, chỉ ước đoán ông sinh khoảng trong thập niên 40 của thế kỷ XVIII. Nguyễn Huy Lượng người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội, sau di cư về làng Lương Xá, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. ông sinh ra trong một gia tộc nổi tiếng, có nhiều tên tuổi đỗ đạt như: Tiến sĩ Nguyễn Huy Nhuận, Tiến sĩ Nguyễn Huy Dẫn, Tiến sĩ Nguyễn Huy Cẩn... Thân phụ Nguyễn Huy Lượng là Nguyễn Huy Bá cũng đỗ đạt và làm quan cho chúa Trịnh. Đặc biệt, Nguyễn Huy Bá cùng với Ngô Thì Nhậm đã trực tiếp tố cáo thế tử Trịnh Khải có ý muốn cướp ngôi của chúa, dẫn đến việc Trịnh Khải bị bắt và con thứ Trịnh Cán lên nắm quyền. Sau khi Trịnh Sâm mất, binh lính ủng hộ Trịnh Khải làm loạn khiến Nguyễn Huy Bá và gia đình phải lánh nạn.
Nguyễn Huy Lượng lớn lên được ăn học đầy đủ, đỗ Hương cống và có làm chức quan nhỏ trong Bộ Lễ. Đó là những gì mà giới nghiên cứu biết được về Nguyễn Huy Lượng trong giai đoạn lịch sử đầy biến động này. Đến mùa xuân Kỷ Dậu 1789, Quang Trung Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc đánh quân Thanh, Nguyễn Huy Lượng không một chút đắn đo, đã đi theo Quang Trung bởi ông không có nhiều mối quan hệ với vua Lê-chúa Trịnh và ông nhận ra nhà Tây Sơn là một lực lượng tiến bộ có thể đánh đuổi ngoại xâm, ổn định đất nước.
Ông thăng tiến nhanh chóng trong triều Tây Sơn, làm tới chức Hữu thị lang Bộ Hộ, tước Chương lĩnh hầu. Nhưng triều Tây Sơn không tồn tại được lâu, Quang Trung mất sớm, Quảng Toản lên ngôi không chống lại được phe Nguyễn ánh nên mất dần đất đai. Đến năm 1801, Quang Toản để mất kinh đô Phú Xuân phải bỏ ra Thăng Long. Khi ở Thăng Long, đúng tiết hạ chí (tức ngày 21-6-1801), vua Quang Toản làm lễ mùa hè tế đàn Phương Trạch ở Hồ Tây, sai Nguyễn Huy Lượng soạn một bài thơ và một bài phú tiến dâng. Vua xem xong, khen và thưởng tiền.
Bài “Tụng Tây Hồ phú” mở đầu bằng một lời thốt ngạc nhiên “Lạ thay cảnh Tây Hồ”! Và sau đó là vô số câu phú ngợi ca vẻ đẹp Hồ Tây và kinh thành Thăng Long, tán tụng công đức của triều đại Tây Sơn như: “Sắc rờn rờn nhuộm thức lam xanh, ngỡ động bích nổi lên leo lẻo/ Hình lượn lượn uốn vòng câu bạc, tưởng vầng trăng rơi xuống mảnh nhò nhò”; “Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng/ Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co”... Các nhà nghiên cứu văn học trung đại “chúng khẩu đồng từ” đánh giá: “Tụng Tây Hồ phú” của Nguyễn Huy Lượng là kiệt tác của văn học cổ điển Việt Nam khi đạt đến đủ những yêu cầu của một bài phú là ngôn từ trang trọng mà đẹp đến diễm lệ, giàu nhạc tính. Nguyễn Huy Lượng còn là tác giả những tác phẩm đáng chú ý khác như: “Ngự đạo hành cung nhật trình” (Con đường từng ngày của nhà vua qua các hành cung), tập thơ 100 bài Đường luật “Cung oán thi” và nhiều khả năng ông là người viết bài văn tế nổi tiếng “Văn tế tướng sĩ trận vong”.
Sau khi Gia Long lên ngôi (năm 1802) vẫn trọng dụng Nguyễn Huy Lượng, cho giữ tri phủ Xuân Trường (Nam Định). ông làm quan một thời gian ngắn rồi mất năm 1808.
Với một tài năng văn chương độc đáo và nhất là đã bất tử hóa cảnh đẹp Hồ Tây và Thăng Long xưa, tên tuổi Nguyễn Huy Lượng cần sớm được tôn vinh dưới nhiều hình thức, để ông không còn xa lạ với hậu thế Thủ đô hôm nay.
Bài và ảnh: HÀM ĐAN