Cái tâm trong sắt thép

Trải qua hàng trăm năm, người dân Đa Sỹ vẫn mang trong mình niềm tự hào bởi khả năng tạo ra những con dao “chặt được cả sắt”. Để làm được một con dao, chiếc kéo, người thợ rèn phải thức khuya dậy sớm, ngồi hàng giờ trước máy mài với sự bền bỉ, cần mẫn cao độ.

12 tuổi bắt đầu học nghề từ cha ông, đến nay, ông Lê Văn Trinh, nghệ nhân làng rèn Đa Sỹ, đã có hơn 30 năm làm bạn với bếp lửa hồng, với tiếng búa rộn ràng và tiếng xè xè của máy cắt. Trung bình mỗi ngày ông Trinh làm được chục con dao chặt và khoảng một trăm con dao con, gửi theo các chuyến hàng đi khắp Bắc-Nam. Mặc dù máy móc ngày càng hiện đại, được sử dụng nhiều ở làng nghề, rút ngắn thời gian gia công, nhưng ông vẫn chọn cách làm thủ công để rèn dao, làm kéo.

leftcenterrightdel
Người dân Đa Sỹ bên lò rèn dao, kéo.

Nói về công việc của mình, ông Trinh cho hay: “Bây giờ có búa máy thì đỡ vất vả hơn nhưng làm thủ công vẫn là tốt nhất. Nếu như tất cả các công đoạn đều làm bằng máy thì tuổi thọ của sản phẩm sẽ không cao.”

Ngoài duy trì chất lượng sản phẩm thì việc tận tâm truyền nghề cũng là cách giúp nghề rèn Đa Sỹ tồn tại. Bất kỳ ai muốn học nghề rèn nơi đây cũng đều không phải đóng tiền, ngay cả với những người ở địa phương khác. Việc học bắt đầu từ những công việc đơn giản như quay bễ, mài dao… Người học nghề được chủ lò nuôi ăn cơm, đến khi dần biết nghề thì bắt đầu được trả công, rồi khi thành nghề lại được chủ lò sắm đồ, vã đe… để ra lập nghiệp riêng­­. Chính cái đức, cái ân của người làm nghề với nhau ở một làng nghề truyền thống đã níu giữ những thế hệ sau tiếp tục gắn bó với nghề “tay đe tay búa”.

Giờ đây, làng Đa Sỹ vẫn có đến hơn 700 lò rèn còn đỏ lửa. Thế hệ trẻ đã áp dụng nhiều loại máy móc hỗ trợ việc sản xuất như máy ép, mài… hay búa máy nhằm tiết kiệm sức người, tăng năng suất lao động...

Công phu nghề làm dao, kéo

Mặc dù đã được máy móc hỗ trợ nhiều, nhưng nói chung nghề rèn vẫn khá vất vả so với các nghề khác. Để tạo ra được một sản phẩm có chất lượng tốt đòi hỏi sự công phu, tỉ mỉ của người làm nghề. Khâu quan trọng đòi hỏi nhiều kỹ thuật nhất là tôi thép và làm nguội. Đầu tiên, những người thợ sẽ cắt các bản sắt thành hình dạng của sản phẩm, sau đó cho lên lò nung với nhiệt độ hơn 1.000 độ C. Tùy thuộc vào từng loại nguyên liệu thép và sản phẩm tạo ra dày, mỏng mà thời gian nung sẽ khác nhau. Khi phôi thép nung chuyển sang màu đỏ trắng là đến lúc đặt lên đe để quai búa.

Ấn tượng nhất là công đoạn cho thép vào nung, nhất khi nhìn thấy thép bị cháy, phôi thép nung quá lửa vừa nổ lách tách vừa bắn những tia sáng tạo thành những quả cầu nhỏ sáng rực. Người trong nghề gọi đây là hiện tượng “phát hoa”, thép bị nung quá lửa và có tạp chất.

leftcenterrightdel

Các sản phẩm của làng nghề Đa Sỹ.

Nguyên liệu để làm ra một con dao thường được người dân thường tận dụng từ nhíp xe ô tô, ray đường sắt bỏ đi… Sau này nguồn nguyên liệu dồi dào, phần lớn được nhập từ Thạch Thất (Hà Nội) và Nam Định. Nhờ vậy số lượng cũng như chủng loại mặt hàng cũng được nâng lên đáng kể. Mỗi ngày Đa Sỹ xuất xưởng hàng nghìn con dao chất lượng cao.

Qua khâu rèn trong lửa, đến công đoạn gọt cánh (gọt bỏ những phần sắt thừa) để tạo hình dáng hoàn chỉnh cho sản phẩm. Người thợ gọt cánh phải kẹp con dao giữa hai thanh tre đặt nghiêng 45 độ thì lưỡi dao mới có độ mỏng đều và sắc. Các công đoạn tiếp theo là mài nước, gạt màu, đánh phớt bóng, bôi dầu, tra cán thường được người già, phụ nữ và thiếu niên đảm nhiệm, bởi khâu này không đòi hỏi sức lực cũng như kỹ thuật cao.

Theo ông Hoàng Văn Hùng, một trong những nghệ nhân có tiếng cho biết, mỗi hộ rèn ở Đa Sỹ đều có bí quyết riêng, nhưng điểm chung là thép phải tốt và kỹ thuật cao mới cho ra lò những con dao, cây kéo sắc bén.

Có thể thấy, nghề rèn đã và đang mang lại nguồn sống ổn định cho người dân nơi đây. Đa Sỹ vẫn giữ được nghề truyền thống mà cha ông đi trước đã tạo dựng. Những bếp than vẫn rực cháy; tiếng búa, tiếng đe vẫn rộn ràng một vùng ngoại thành Hà Nội.

Bài, ảnh: TÀO PHƯỢNG - NGÂN PHƯƠNG